Trường Mầm non Tuổi thơ: Một số biện pháp quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non – cách bảo quản đồ chơi ở lớp mầm non

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non

Bạn đang xem: cách bảo quản đồ chơi ở lớp mầm non

Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non

  PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ

     Trẻ em được ví như ‘mầm non, cây non’, để những ‘cây non’ ấy phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần thì ngoài việc các con được thụ hưởng một chế độ chăm sóc khoa học về dinh dưỡng, giấc ngủ, vệ sinh, sức khỏe, các con phải được bao bọc, che chở trong tình thương yêu của cha mẹ, gia đình, giáo viên và được “Thiết lập vành đai an toàn” từ trách nhiệm của cả cộng đồng, xã hội. Hay nói cách khác, các trẻ nhỏ phải được sống trong một môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện. Đó là môi trường giáo dục mà các con được bảo vệ, tôn trọng, đối xử công bằng, bình đẳng và nhân ái; không bị tổn hại về thể chất và tinh thần, không bị bạo lực. Đây cũng là mục tiêu đặt ra khi Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2017/NĐ-CP ngày 17-7-2017 “Quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường”.

     Thời gian gần đây, tại một số cơ sở giáo dục mầm non (GDMN) trong nước liên tiếp xảy ra các vụ việc bạo hành, xâm hại, bắt cóc, ngộ độc thực phẩm, cháy nổ gây ảnh hưởng về thể chất, tinh thần của trẻ, gây bức xúc trong các bậc phụ huynh. Dư luận xã hội cũng đặc biệt chú ý và không khỏi băn khoăn về công tác đảm bảo an toàn cho trẻ trong các cơ sở GDMN sau khi hàng loạt vụ việc được phát hiện. Nhiều vụ bạo hành trẻ nhỏ, nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của trẻ mầm non liên tiếp xảy ra trong thời gian qua khiến dư luận hoang mang. Thời gian gần đây nổi bật với nhiều sự kiện giáo dục đáng chú ý. Tại một số địa phương đã liên tiếp xảy ra tình trạng mất an ninh, an toàn trường học: học sinh bị tai nạn thương tích do điều kiện cơ sở vật chất không bảo đảm; cá biệt còn nhà giáo có hành vi thiếu chuẩn mực sư phạm với học sinh; đặc biệt, tình trạng phụ huynh học sinh vào trường học hành hung, gây thương tích, xúc phạm danh dự nhà giáo. Các sự việc trên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất, tinh thần, danh dự của nhà giáo và học sinh; tác động xấu đến môi trường giáo dục trong nhà trường và gây bức xúc trong dư luận xã hội. Nhiều vụ tai nạn đau lòng dẫn đến những cái chết thương tâm của trẻ trong trường mầm non như điện giật, bị ngã trong nhà vệ sinh hay bị tủ đựng đồ đè, mắc dây chuyền, hóc thạch… đang cảnh báo về việc đảm bảo an toàn tính mạng cho trẻ. Những vụ mất an toàn, bạo lực này có điểm chung là hầu hết các bảo mẫu, giáo viên có hành vi sai phạm đều chưa được đào tạo về nghiệp vụ sư phạm mầm non, thiếu kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ nhỏ; có người do trình độ văn hóa hạn chế, chưa có kiến thức, kỹ năng làm mẹ cũng vào làm việc ở các cơ sở giáo dục này hoặc do cơ sở vật chất không đảm bảo yêu cầu, số lượng trẻ quá đông, trong khi đó, trẻ em lại rất hiếu động, tò mò, chưa có kinh nghiệm nên rất dễ xảy ra các tai nạn như: ngã, chấn thương chảy máu, hóc sặc, bỏng, cháy. Mặt khác, một số giáo viên, nhân viên mầm non chưa được tập huấn để xử lí những tình huống cấp bách, chưa có kinh nghiệm, kĩ năng xử lí cấp cứu trẻ còn yếu dẫn đến việc chưa đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ, công tác phòng chống tai nạn thương tích, công tác đảm bảo bếp ăn an toàn thực phẩm (ATTP), thực phẩm bẩn, thực phẩm không rõ nguồn gốc, cháy nổ… Rất nhiều nguyên nhân được lý giải song phần đông các nhà quản lý, các bậc phụ huynh vẫn không khỏi băn khoăn về công tác đảm bảo an toàn cho trẻ trong các cơ sở giáo dục mầm non.

      Nhìn nhận một cách khách quan nhất không giống như những giáo viên ở các bậc học khác, đội ngũ giáo viên mầm non, nhất là các cô nuôi dạy trẻ thường bị áp lực trong nghề nghiệp bởi trẻ nhỏ rất ngộ nghĩnh, hiếu động do chưa có ý thức làm chủ bản thân. Vì vậy, để hạn chế, phòng tránh những vụ bạo hành trẻ nhỏ, chính các cô giáo phải thường xuyên được tập huấn, giáo dục, bồi đắp kỹ năng xử lý các tình huống với trẻ em thông qua công tác tham vấn tâm lý học đường. Vì ngoài trình độ, kỹ năng sư phạm, khi được tham vấn, can thiệp tâm lý kịp thời, các cô nuôi dạy trẻ sẽ giảm bớt những căng thẳng, tự mình kiểm soát được thái độ, hành vi để ứng xử bình tĩnh, chín chắn, đúng mực, thân thiện với trẻ nhỏ. Chính vì vậy, việc đảm bảo an toàn cho trẻ, an toàn trường học là một việc hết sức cấp bách hiện nay, đòi hỏi toàn xã hội phải có những hành động thiết thực để ngăn chặn những nguy cơ tai nạn thương tích (TNTT) đe dọa đến tính mạng và sức khỏe của trẻ em nước ta.

     Để ngăn chặn và phòng chống TNTT, đảm bảo an toàn cho trẻ, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã ban hành Thông tư số 13/2010/TT-BGDĐT ngày 15/4/2010 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn, thương tích trong cơ sở GDMN để cho các trường mầm non làm căn cứ để thực hiện.

     Trường mầm non có nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ. Vì thế tạo môi trường thật sự an toàn, thân thiện, lành mạnh cho trẻ hoạt động, vui chơi là điều thiết yếu nhất. Đó còn là điều kiện tốt để phát triển về thể chất vàtinh thần cho trẻ, góp phần phát triển một cách toàn diện.Thấy được tầm quan trọng của vấn đề này, chúng tôi luôn đặt công tác đảm bảo an toàn cho trẻ là một trong những yếu tố cấp bách góp phần chăm sóc – giáo dục (CS-GD) trẻ một cách toàn diện. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm quyết định đến chất lượng, uy tín của nhà trường.

     Từ những lý do trên tôi  đề cập và nghiên cứu đề tài:“Kinh nghiệm  quản lý đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non”. Với mong muốn góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng chăm sóc giáo dục của nhà trường.

PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

     1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu trong đề tài:

     1.1.  Các khái niệm và lý luận cơ bản:

     An toàn là sự yên ổn, loại trừ nguy hiểm hoặc tránh được sự cố có thể xảy ra. Đảm bảo an toàn trong trường mầm non là điều kiện chắc chắn giữ gìn được, khắc phục được những sự cố, những yếu tố bên ngoài mang tính chất nguy hiểm lên thân thể trẻ. Môi trường sinh hoạt của trẻ an toàn phải đảm bảo an toàn về thân thể và tâm lí: Đáp ứng nhu cầu vệ sinh tối thiểu, thực phẩm dinh dưỡng an toàn, nước sạch, không khí trong sạch. Giáo viên luôn tạo cho trẻ cảm giác an tâm, an toàn, không có những nguy hiểm đe dọa (kể cả nguồn gây ô nhiễm, bạo lực, cháy nổ…). Trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phải được bảo dưỡng thường xuyên để đảm bảo sự an toàn, thẩm mĩ và sạch sẽ. Trang thiết bị ngoài trời phải đảm bảo an toàn và có tác dụng kích thích trẻ phát triển về các vận động khác nhau.

     Trẻ muốn phát triển bình thường phải cảm thấy mình được che chở, nâng niu, được sống trong môi trường quen thuộc đầy tình yêu thương của cha mẹ và người thân. Bất lực, yếu ớt về mặt sinh học, trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của người khác. Khi bị mất an toàn, đứa trẻ rơi vào tình trạng ấm ức, hẫng hụt và lo lắng. Đây là nguyên nhân của nhiều bất ổn trong quá trình phát triển của trẻ, cả về mặt sinh lí lẫn tâm lí.

     Bên cạnh việc đảm bảo an toàn về tâm lý cho trẻ, còn phải đảm bảo an toàn về thân thể. Ở lứa tuổi này, trẻ vô cùng hiếu động, tò mò, ham hiểu biết và luôn sử dụng mọi giác quan để khám phá thế giới xung quanh trẻ. Trẻ còn quá non nớt để tự bảo vệ mình nên nguy cơ xảy ra tai nạn với trẻ là rất cao, nếu như thiếu sự quan tâm, định hướng đúng đắn của người lớn hoặc các điều kiện cơ sở vật chất để chăm sóc giáo dục trẻ không đảm bảo an toàn. Vì vậy, khi vui chơi hoặc trong sinh hoạt rất dễ xảy ra tai nạn thương tích như: rách da, tổn thương phần mềm, gãy xương để lại những hậu quả không tốt thậm chí có thể nguy hại đến tính mạng trẻ. Tuy nhiên, phần lớn các tai nạn trên đều có thể phòng tránh được nếu cha, mẹ, cô giáo và mọi người trong cộng đồng xác định được căn nguyên, nâng cao nhận thức, xây dựng môi trường an toàn cho trẻ. Xác định đảm bảo an toàn cho trẻ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu quyết định đến chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ, các cấp quản lý giáo dục và các cơ sở GDMN đã luôn quan tâm chỉ đạo thực hiện việc đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất cũng như tinh thần cho trẻ.

     Bộ GD&ĐT và các bộ ngành liên quan đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản chỉ đạo về công tác đảm bảo an toàn cho trẻ em tại cơ sở giáo dục mầm non, thực hiện thanh tra, kiểm tra liên ngành, kiểm tra chuyên đề, yêu cầu các Sở GD&ĐT chỉ đạo các phòng GD&ĐT phối hợp với chính quyền địa phương tăng cường kiểm tra các cơ sở GDMN, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về đảm bảo an toàn cho trẻ.

     Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Bộ, ngành Giáo dục các địa phương đã tham mưu UBND các cấp ban hành các văn bản hướng dẫn, chỉ đạo tăng cường công tác quản lý, đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất và tinh thần cho trẻ, đồng thời thực hiện tốt việc phân cấp quản lý giáo dục tại địa phương. Công tác thanh tra, kiểm tra được phòng GD&ĐT quận phối hợp với các ban ngành tiến hành thường xuyên nhằm nhắc nhở, đôn đốc và hướng dẫn các cơ sở GDMN thực hiện nghiêm túc việc đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ.

     1.2. Mục đích của đề tài:

     – Tìm ra các biện pháp quản lý phù hợp nhằm nâng cao công tác đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non.

      – Xây dựng được môi trường dạy – học có tính tích cực, an toàn cho trẻ.

     1.3. Phương pháp và công cụ nghiên cứu

–  Phương pháp nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên ngành, các văn bản, nghị quyết của Đảng, Nhà nước có liên quan đến vấn đề đảm bảo an toàn trường học.

– Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+  Phương pháp quan sát thu thập thông tin:

Là phương pháp được áp dụng để thu thập thông tin, trả lời cho các tiêu chí trong bảng kiểm đánh giá trên trẻ. Việc quan sát, điều tra được thực hiện trên 550 trẻ các độ tuổi 3,4,5 tuổi tại nhà trường để có được số liệu đầu vào đánh giá hiệu quả của hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ trước khi triển khai các biện pháp của đề tài có liên quan đến số liệu thu về được sử dụng để phân tích và chứng minh tính cấp thiết của đề tài.

 – Phương pháp thống kê toán học: Dùng để xử lý các dữ liệu thu được từ các phương pháp trên rút ra những kết quả cần thiết.

     1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Cán bộ, giáo viên, nhân viên, một số phụ huynh và các cháu của trường.

     1.5. Thời gian thực hiện: Năm học 2018 – 2019

     2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:

     2.1. Đặc điểm tình hình chung

     Nhà trường có tổng số 550 trẻ được chia theo độ tuổi vào 12 nhóm lớp trong đó có 05 lớp mẫu giáo lớn, 04 lớp mẫu giáo nhỡ, 03 lớp mẫu giáo bé. Tổng số giáo viên, nhân viên trong nhà trường là 53 đồng chí và 100% đều đạt chuẩn về trình độ đào tạo.

     2.2. Thuận lợi:

     * Về nhận thức:

– Phòng GD&ĐT phối hợp tốt với Sở GD&ĐT, với công an phòng cháy chữa cháy (PCCC), với Phòng y tế quận và các chuyên gia khác đã tổ chức tập huấn cho đội ngũ CB và giáo viên cốt cán nhiều chuyên đề về công tác đảm bảo ATTP, an toàn trường học, phòng chống cháy nổ, phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non.

– 100% CBGVNV của nhà trường được học tập chuyên đề “Bồi dưỡng đạo đức nhà giáo” trong đó nhấn mạnh nội dung làm thế nào để trẻ được an toàn về thể chất, tinh thần, trẻ nhận được sự yêu thương từ cô giáo và những người thân do trực tiếp đồng chí Phó trưởng phòng GD&ĐT quận giảng bài và chia sẻ.

– Nhà trường mời chuyên gia, cán bộ chuyên ngành trực tiếp về tập huấn cho CBGVNV và trẻ các kỹ năng để phòng tránh và cách xử trí các tai nạn thường xảy ra làm mất an toàn đối với trẻ.

– Công tác bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ về công tác đảm bảo an toàn cho trẻ nhà trường đưa vào chương trình kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên trong cả năm học.

     * Về cơ sở vật chất:

–  Bếp ăn của nhà trường được bố trí theo nguyên tắc một chiều, đảm bảo chế độ kiểm thực 3 bước và lưu mẫu thức ăn theo đúng quy định.

See also  10+ Cách bảo quản thực phẩm đúng cách an toàn tốt nhất tại nhà - cách bảo quản đồ tươi sống lâu hư

– 12/12 lớp học thoáng mát, sạch sẽ, an toàn cho trẻ, công trình vệ sinh đúng quy định, đủ nước sạch phục vụ sinh hoạt hàng ngày cho trẻ.

– Nhà trường có phòng y tế riêng, trang thiết bị y tế tương đối đầy đủ.

– Hệ thống, trang thiết bị PCCC được đầu tư tương đối đầy đủ.

     * Về đội ngũ CBGVNV:

– Ban giám hiệu luôn đoàn kết thống nhất trong mọi công việc, có kinh nghiệm trong công tác quản lý.

– Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, quan tâm đến trẻ và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc để đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường học.

– Nhân viên y tế có trình độ chuyên môn phù hợp, có kinh nghiệm, tận tụy với công việc.

     2.3. Khó khăn

– Cơ sở vật chất của trường đã được xây dựng nhiều năm, nay đã xuống cấp, nhiều chỗ hư hỏng nặng: sân trường một số nơi rộp, sàn ngấm dột, một số đồ chơi ngoài trời cũ chưa đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ.

– Nhân viên y tế kiêm nhiệm nhiều công việc khác theo quy định nên còn chưa thường xuyên quan tâm đến kiểm sát nguy cơ.

– Một số giáo viên còn hạn chế, chưa linh hoạt về kỹ năng phòng tránh và xử lý các TNTT cho trẻ.

– Một số lớp có số lượng trẻ đông so với quy định, một số trẻ có biểu hiện hành vi tự kỉ dễ gây thương tích cho mình và cho bạn cùng lớp.

– CBCNV nhà trường chủ yếu là nữ nên việc tổ chức, duy trì các đội PCCC cơ sở còn nhiều bất cập. Ngoài ra, do đặc thù công việc, lực lượng này không được huấn luyện, diễn tập thường xuyên nên nếu không may xảy ra hỏa hoạn thì khó lòng đáp ứng được khâu chữa cháy ban đầu.

     3. Các biện pháp thực hiện:

Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch phù hợp với thực tiễn của nhà trường.

Trong công tác quản lý, việc lập kế hoạch cụ thể cho các hoạt động là việc làm đầu tiên và mang tính chất quyết định đến sự thành công của cả quy trình quản lý. Căn cứ vào hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2018 – 2019, căn cứ tình hình thực trạng của nhà trường.Tôi đã nhận định được những điểm mạnh và những điểm còn hạn chế trong vấn đề đảm bảo an toàn trong trường học. Là một người đứng đầu đơn vị, tôi xác định lựa, chọn mục tiêu, những nội dung cần thiết, bám sát với yêu cầu của ngành để xây dựng kế hoạch thực hiện có chất lượng và hiệu quả phù hợp tại đơn vị. Cụ thể:

Nghiên cứu kỹ Nghị định 80/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ Quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường; Quán triệt và thực hiện nghiêm túc nội dung Chỉ thị 505/CT-BGDĐT ngày 20/2/2017 của Bộ GD&ĐT về việc tăng cường các giải pháp đảm bảo an toàn trong các cơ sở giáo dục. Xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất và tinh thần cho trẻ trong nhà trường; Tiếp tục chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Thông tư số 13/2010/TT-BG ban hành các quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích trong cơ sở GDMN; Thông tư số 13/2016/TTLT- BYT-BGDĐT ngày 12/5/2016 của Bộ Y tế và Bộ GD&ĐT về công tác y tế trường học; Kế hoạch số 14/KH-UBND ngày 15/01/2018 của UBND thành phố Hà Nội về thực hiện Quy định môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường; Kế hoạch số 16/KH-UBND ngày 16/01/2018 của UBND thành phố Hà Nội về việc ngãn ngừa và trợ giúp trẻ em bị bạo lực, xâm hại trên địa bàn Thành phố; Hướng dẫn của Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Hoàng Mai về xây dựng trường học an toàn, thân thiện, bảo vệ trẻ em năm 2018.

Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho CBGVNV trong việc bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, phòng, chống xâm hại, bạo lực học đường.

Ban giám hiệu nhà trường tiếp tục bồi dưỡng, tập huấn cho 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên về quy chế chuyên môn, những điều giáo viên, nhân viên không được làm, chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non trong đó quan tâm đến nội dung phẩm chất chính trí, đạo đức, lối sống. Thường xuyên nhắc nhở, khuyến khích giáo viên, nhân viên thực hành giá trị sống “Lòng yêu thương” thể hiện trong từng lời nói, việc làm, có biện pháp giảm áp lực làm việc cho GVNV; thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GVNV trong nhà trường.

Kiểm soát chặt chẽ nguồn thực phẩm và thực hiện nghiêm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm trong bếp ăn của nhà trường.

Thường xuyên kiểm tra để kịp thời phát hiện, chỉ đạo khắc phục những yếu tố nguy cơ gây mất an toàn đối với trẻ. Xử lí nghiêm những trường hợp giáo viên làm mất an toàn và xúc phạm thân thể trẻ. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, kĩ năng chăm sóc, giáo dục trẻ, phòng tránh tai nạn thương tích cho người chăm sóc trẻ, các bậc cha mẹ và cộng đồng.

Sau khi xác định được những nhiệm vụ cơ bản và cần thiết, tôi tiến hành lập kế hoạch triển khai thực hiện tới 100% CBGVNV nhà trường thực hiện tốt công tác đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường học theo lịch trình cụ thể từng tháng, rõ ràng về thời gian, nội dung và rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm giúp cho CBGVNV nhà trường thực hiện công tác an toàn cho trẻ thực sự hiệu quả.

Biện pháp 2:Bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho CBGVNV đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường mầm non

Bồi dưỡng những kiến thức, kỹ năng cơ bản về những nội dung đảm bảo an toàn trường học là rất cần thiết bởi chính GVNV là lực lượng trực tiếp thực hiện mọi hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ trong nhà trường. Hơn ai hết GVNV phải là người nắm vững những kiến thức, kỹ năng cơ bản về luật pháp, về những kĩ năng phòng, chống và xử lý các tình huống mất an toàn xảy ra đối với trẻ.

Đối mặt với thực trạng về sự mất an toàn của trẻ trong xã hội hiện nay, năm học 2018 – 2019, sự vào cuộc quyết liệt của toàn ngành đặc biệt là cấp học mầm non, UBND quận Hoàng Mai đã chỉ đạo phòng GD&ĐT cũng như các nhà trường cần trú trọng công tác đảm bảo an toàn cho trẻ.  Phòng GD&ĐT, các nhà trường đã tổ chức các đợt tập huấn, phối hợp với trung tâm y tế, mời các chuyên gia về các lĩnh vực: xử trí ban đầu, đạo đức nhà giáo, phòng cháy chữ cháy… Thông qua buổi học 100% CBGVNV của toàn cấp họcnói chung và của trường tôi nói riêng đã nhận thức được bài học sâu sắc đáng quý: “Người quản lý phải sâu sát từ khâu quản lý, tăng cường bồi dưỡng chuyên môn quan tâm bồi dưỡng đạo đức nhà giáo cho GVNV của trường mình; đối với giáo viên: biết yêu thương, chia sẻ, biết kiềm chế bản thân mình; biết kiểm soát hành vi của bản thân; tự học bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và cần học tập không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng xử trí các vấn đề thường gặp…”. Với những yêu cầu và nhiệm vụ của ngành, bản thân tôi đã xác định được mục đích bồi dưỡng để từ đó tìm ra những nội dung, cách thức thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường. Cụ thể:

     * Mục đích: 

– Giúp CBGVNV có được những kiến thức về việc đảm bảo an toàn trường học, nắm được những kĩ năng, cách phòng và chống những tai nạn thương tích, những vấn đề mất an toàn xảy ra đối với trẻ; GVNV có ý thức đề phòng, kiểm tra các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn rủi ro cao có thể xảy ra không an toàn đến trẻ tại trường.

– Giúp CBGVNV xác định được các nguyên nhân chủ quan và khách quan xảy ra tai nạn cho trẻ, để từ đó tìm ra các biện pháp khắc phục, giải quyết hữu hiệu. 

– Giúp CBGVNV có ý thức trách nhiệm trong mọi hoạt động, nâng cao trách nhiệm trước trẻ, trước nhà trường, các bậc phụ huynh và trước pháp luật.

* Nội dung bồi dưỡng: Chúng tôi đã lựa chọn những nội dung mới, nội dung cũ cần thiết để bồi dưỡng cho đội ngũ giúp họ hiểu và thấm nhuần nâng cao nhận thức.

     * Hình thức:

– Cử cán bộ và giáo viên cốt cán của các độ tuổi tham gia lớp bồi dưỡng chuyên môn của Phòng giáo dục tổ chức. Sau đó về triển khai tại trường để 100% giáo viên trong trường học tập.

– Khuyến khích giáo viên tự học tập không ngừng: cung cấp một số tài liệu tham khảo, tư vấn cho giáo viên một số trang web về việc đảm bảo an toàn trường học. Nhà trường mua các cuốn tài liệu có liên quan đến xây dựng môi trường an toàn, phòng, chống, xử trí các TNTT thường gặp, phô tô các tài liệu của Trung tâm y tế; các văn bản chỉ đạo của ngành; các bài viết tuyên truyền cho 100% CB-GV-NV tự nghiên cứu và học tập. 

– Tổ chức các buổi chia sẻ về nội dung an toàn trường học. Đưa ra các tình huống tai nạn thương tích từ đơn giản đến phức tạp thường xảy ra trong nhà trường để giáo viên nghiên cứu, suy nghĩ, trao đổi và rút kinh nghiệm, tìm hướng giải quyết.

– Phân công nhân viên y tế nghiên cứu các nội dung về công tác chăm sóc sức khỏe, xử trí các tai nạn thường gặp như: Bỏng nước sôi, điện giật, hóc, sặc, gẫy tay, gẫy chân, ngạt nước, chảy máu, choáng, gió. Mỗi tháng một chuyên đề trực tiếp bồi dưỡng cho giáo viên thực hành trên búp bê, ghép vào các buổi họp Hội đồng sư phạm hàng tháng của nhà trường và các buổi sinh hoạt chuyên môn. Trong năm học, nhà trường đã tập huấn được nhiều chuyên đề về công tác đảm bảo an toàn cho trẻ. Một số chuyên đề khó, đòi hỏi phải có kĩ thuật và phương tiện, đồ dùng dụng cụ thực hành, nhà trường mời chuyên gia về tập huấn hướng dẫn để CBGVNV có cách làm đúng và khoa học hơn.

     * Kiểm tra kết quả sau bồi dưỡng:

– Tổ chức cho cán bộ, giáo viên viết phiếu nhận xét ngay sau buổi bồi dưỡng để tìm ra những ưu điểm, tồn tại, ý kiến đề xuất sửa đổi để rút kinh nghiệm cho lần sau.

– Giao nhiệm vụ cho từng đồng chí Hiệu phó xây dựng kế hoạch tổ chức lồng ghép vào một số hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ để xây dựng thành các chuyên đề trong năm học. Giáo viên các nhóm lớp được dự chuyên đề về triển khai tại nhóm lớp của mình để đồng nghiệp dự giờ đánh giá nhận xét để có biện pháp bồi dưỡng kịp thời. Trong năm học nhà trường đã tổ chức được một số chuyên đề sau bồi dưỡng điển hình như chuyên đề khám phá, lồng ghép các nội dung và kĩ năng an toàn thông qua các hoạt động học và chơi cho trẻ.

Như vậy, việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên đóng vai trò mở đường cho việc quản lý các hoạt động nhằm đảm bảo an toàn, an ninh trật tự trong nhà trường để nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ.

Biện pháp 3: Xây dựng hệ thống quy tắc an toàn trong nhà trường .

Quy tắc không phải là văn bản quy phạm pháp luật, do đó những nội dung quy định mang tính chuẩn mực chung nhằm định hướng hành vi, thái độ, thói quen, cách thức thực hiện của mọi hoạt động, bộ quy tắc đưa ra khung cơ bản giúp cho CBGVNV dễ thực hiện các hoạt động đảm bảo an toàn cho trẻ một cách dễ dàng. Tôi đã suy nghĩ, sưu tầm và lựa chọn những quy tắc đơn giản, phù hợp sau đó sắp xếp thành hệ thống quy tắc giúp giáo viên nhân viên dễ thực hiện. Cụ thể:

     * Quy tắc bếp ăn an toàn và đảm bảo an toàn thực phẩm:

Bếp ăn an toàn:

1. Bếp ăn tập thể của nhà trường được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm.

2. Người quản lý và nhân viên trực tiếp chế biến thực phẩm được tập huấn kiến thức an toàn thực phẩm được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận và khám sức khỏe định kỳ đúng quy định. Có cán bộ y tế kiểm soát chất lượng thực phẩm trước và sau khi chế biến. Định kỳ, đột xuất giám sát chất lượng, an toàn sản phẩm và đánh giá tiêu chí cơ bản về chất lượng, an toàn thực phẩm, không để xảy ra ngộ độc thực phẩm.

3. Nguyên liệu thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến sử dụng trong thực phẩm phải có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và bảo đảm an toàn.

4. Bảo đảm đủ nước sạch để nấu ănvà phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống. Bể nước có nắp đậy an toàn, có lưới chống côn trùng.

5. Thiết bị, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm được chế tạo phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, bảo đảm an toàn, không gây ô nhiễm thực phẩm, dễ làm sạch, khử trùng hấp sấy, bảo dưỡng.

6. Quy trình nấu ăn cho trẻ được bố trí theo nguyên tắc một chiều từ nguyên liệu đầu vào cho đến sản phẩm cuối cùng. Bố trí lưu mẫu thực phẩm đúng quy định.

7. Khu vực kho nguyên liệu của cô, của trẻ, khu vực sơ chế, chế biến, khu vệ sinh, khu thay đồ bảo hộ lao động và các khu vực phụ trợ liên quan được bố trí ở vị trí riêng biệt.

8. Kho bảo quản thực phẩm cần thông thoáng, không bị ngập nước, đọng nước; không bị ảnh hưởng bởi động vật, côn trùng, vi sinh vật gây bệnh.

9. Chỉ dùng các hóa chất tẩy rửa, sát trùng được phép sử dụng.Nhà vệ sinh phải được bố trí riêng biệt với khu sản xuất thực phẩm; cửa nhà vệ sinh không được mở thông vào khu vực nấu.Thùng đựng rác có nắp đậy

10. An toàn khi sử dụng thang tời vận chuyển thức ăn: Nhân viên nấu ăn được giữ, sử dụng khóa thang tời; cần chốt bánh xe vận chuyển thức ăn khi để vào tời; nhân viên không đứng trực tiếp vào thang tời.

An toàn thực phẩm đối với nhân viên nấu ăn:

– Thực hiện rửa tay theo qui định:

+ Rửa tay sau khi: Đi vệ sinh, tiếp xúc với thực phẩm sống, chạm tay vào rác, sau mỗi lần nghỉ…

+ Rửa tay trước khi: Chế biến, tiếp xúc với thực phẩm, chia thức ăn cho trẻ.

+ Rửa tay bằng xà phòng và nước sạch. Tuân thủ đúng các bước theo quy định.

– Mặc quần áo bảo hộ lao động

– Không để móng tay dài, không đeo nhẫn, vòng khi thực hiện nhiệm vụ.

See also  Cách bảo quản thực phẩm đảm bảo dinh dưỡng cho ngày Tết - cách bảo quản bánh cà

– Không ăn uống, hút thuốc trong khi làm việc.

– Không khạc, nhổ trong khu vực nấu nướng.

– Thực hiện lưu mẫu thức ăn đảm bảo 3 đủ: Có đủ dụng cụ để lưu mẫu, dụng cụ phải được rửa sạch, khử trùng, có nắp đậy. Mỗi loại thức ăn phải để trong một hộp riêng; Có đủ lượng mẫu tối thiểu, lưu đủ lượng, đủ thời gian theo quy định và ghi đầy đủ thông tin cần thiết.

     * Quy tắc phòng chống bạo lực, xâm hại trẻ: Tôi đã xây dựng quy tắc ứng xử trong nhà trường và quan tâm đến nội dung:“Đạo đức của giáo viên mầm non”:

1. Nhà giáo phải có các tiêu chuẩn sau đây:

a. Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;

b. Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ;

c. Đủ sức khỏe theo yêu cầu của nghề nghiệp;

d. Lý lịch bản thân rõ ràng.

     2. Đạo đức của người giáo viên mầm non:

Là những phẩm chất của người giáo viên mầm non được hình thành do tu dưỡng, rèn luyện theo các quy định, tiêu chuẩn, yêu cầu…trong chăm sóc và giáo dục trẻ em và trong cuộc sống với tư cách một nhà giáo được thể hiện ra bên ngoài qua nhận thức, thái độ, hành vi.

     3. Phẩm chất đạo đức của người giáo viên mầm non thể hiện ở những điểm sau:

     a. Yêu nước, có niềm tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

– Trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

– Chấp hành tốt luật pháp Nhà nước, chủ trương, chính sách của Đảng và những qui định của ngành, của trường mầm non.

– Có định hướng tốt trong đổi mới nội dung, phương pháp chăm sóc, giáo dục, bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ.

– Làm một công dân tốt có ý thức trách nhiệm đối với xã hội, tham gia phát triển văn hóa- xã hội của cộng đồng; mẫu mực trong hành vi giao tiếp ứng xử là tấm gương cho trẻ noi theo.

     b. Yêu thương, tôn trọng và công bằng với trẻ.

– Không phân biệt đối xử với trẻ và chấp nhận sự đa dạng của trẻ;

– Tận tụy chăm sóc trẻ và kiên nhẫn trong giáo dục trẻ mầm non.

– Xây dựng mối quan hệ thân mật, gần gũi, ân cần, chu đáo với trẻ ở các độ tuổi khác nhau (tuổi nhà trẻ và tuổi mẫu giáo).

– Coi trọng tính tích cực, chủ động, sáng tạo cá nhân của trẻ mầm non; động viên khuyến khích trẻ tích cực tham gia vào hoạt động chung/nhóm;

– Xây dựng và duy trì việc phối hợp với gia đình trong việc chăm sóc-giáo dục trẻ; tuyên truyền về trẻ và phổ biến thông tin về phương pháp giáo dục trẻ.

     c. Yêu nghề, tâm huyết, gắn bó và có trách nhiệm cao với nghề nghiệp.

– Có tình cảm và yêu trẻ, có động cơ yêu nghề, say mê sáng tạo, nhanh chóng thích ứng với tình huống mới.

– Có ý thích tự học, tự bồi dưỡng nâng cao nhận thức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ chăm sóc – giáo dục trẻ trong độ tuổi.

– Có quan hệ tin cậy dễ chịu với người khác, hợp tác thiện chí, trau dồi kinh nghiệm tự hoàn thiện bản thân.

– Có suy nghĩ và quan điểm tích cực, hoàn thành tốt các công việc được giao nhằm đáp ứng với các yêu cầu mới mục tiêu chăm sóc – giáo dục, bảo vệ và nuôi dưỡng trẻ.

     d. Có ý thức tổ chức, có đạo đức tốt, yêu thương đồng cảm với người khác, mềm dẻo, hiểu biết, sáng tạo, lối sống lành mạnh, trung thực, giản dị phù hợp với văn hóa dân tộc.

     4. Yêu cầu đạo đức nhân cách của người giáo viên mầm non:

– Yêu nghề, tâm huyết với nghề, có ý thức giữ gìn danh dự, lương tâm nhà giáo; có tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác; có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, đối xử hòa nhã với trẻ, đồng nghiệp, sẵn sàng giúp đỡ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của trẻ, đồng nghiệp và cộng đồng, được đồng nghiệp, người dân tín nhiệm và trẻ yêu quý.

– Yêu thương, tôn trọng và công bằng với trẻ.

– Tận tụy với công việc; thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội quy của đơn vị, nhà trường, của ngành, sẵn sàng khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.

– Tham gia đóng góp xây dựng và thực hiện nội quy hoạt động của nhà trường.

– Thực hiện các nhiệm vụ được phân công.

– Thực hiện phê bình và tự phê bình thường xuyên, nghiêm túc; thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của giáo dục.

– Chấp hành kỉ luật lao động, chịu trách nhiệm về chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở nhóm lớp được phân công.

– Không có biểu hiện tiêu cực trong cuốc sống, trong chăm sóc, giáo dục trẻ.

– Không vi phạm các quy định về hành vi nhà giáo không được làm.

– Giao tiếp, ứng xử với trẻ mầm non với trẻ mầm non là quá trình tương tác của giáo viên mầm non với trẻ, những phản ứng hành vi của giáo viên nảy sinh trong quá trình giao tiếp với trẻ do những rung cảm cá nhân kích thích nhằm lĩnh hội, truyền đạt những tri thức, vốn kinh nghiệm của cá nhân xã hội trong những tình huống nhất định.

     5. Những biểu hiện đạo đức của người giáo viên mầm non trong giao tiếp ứng xử với trẻ.

Trong khi giao tiếp, ứng xử với trẻ, giáo viên nên lưu ý một số điểm sau:

– Trong chăm sóc, giáo dục trẻ, cô giáo cần phải luôn yêu thương trẻ như con, khéo léo và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của trẻ là: được ăn, được vui chơi và học tập. giáo viên cần yêu thương từng trẻ, yêu thương trẻ như con em mình, điều đó đòi hỏi sự tận tụy và khéo léo dịu dàng, nhạy cảm và tinh tế trong chăm sóc và giáo dục trẻ. Muốn như vậy, trong quá trình giáo dục, giáo viên tạo bầu không khí ấm cúng như gia đình. Đồng thời giáo viên cần chú ý đáp ứng đúng lúc, kịp thời những nhu cầu cơ bản của trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển một cách thuận lợi.

– Giáo viên cần dành mọi suy nghĩ, hành động ưu ái cho trẻ, vì trẻ, đảm bảo cho trẻ phát triển tối đa những tiềm năng vốn có theo khoa học, theo mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục mầm non.

– Giao tiếp ứng xử với trẻ bằng nhưng cử chỉ hành vi dịu hiền, nhẹ nhàng, cởi mở, vui tươi, tạo cho trẻ một cảm giác an toàn, bình yên, dễ chịu khi được đến trường, nhờ có cảm giác an toàn, trẻ mới bộc lộ tính hồn nhiên, ngây thơ, trong trắng của tuổi thơ. Điều này luôn nhắc nhở giáo viên lấy cảm xúc trân thực của mình khi tiếp xúc với trẻ, xúc cảm trân thực nhưng thiên về tình thương, nhẹ nhàng mà vui tươi, cởi mở, phù hợp với tâm sinh lý của trẻ, gieo vào lòng trẻ những sắc thái cảm xúc tích cực của con người.

– Trước mỗi tình huống, giáo viên cần bình tĩnh không nên vội vàng, nóng nảy, nếu giáo viên nóng nảy thiếu kiềm chế, sẽ có những hành vi không hợp lý với trẻ, trong khi đó, bất cứ hành vi nào của giáo viên đều được trẻ ghi dấu lại trong tâm trí trẻ. Giáo viên nên tìm hiểu kĩ những nguyên nhân dẫn đến những biểu hiện hành vi bất thường của trẻ để có hướng giải quyết hợp lý nhất.

– Giáo viên ứng xử công bằng với tất cả trẻ, không phân biệt so sánh trẻ này với trẻ khác dành tình yêu và sự quan tâm với tất cả các trẻ như nhau, giáo viên không được quá quan tâm nhiều đến một trẻ nào đó. Do đó, giáo viên cần phải vừa quan tâm đến cả lớp vừa phải quan tâm đến từng trẻ. Mỗi trẻ có những đặc điểm riêng về thể chất, về nhu cầu, về sở thích, hứng thú, khả năng, giáo viên cần nắm bắt được các đặc điểm đó để có cách giáo tiếp ứng xử phù hợp đối với trẻ.

– Tạo ra bầu không khí thân thiện, cởi mở trong suốt quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ là điều rất quan trọng, giáo viên lúc nào cũng thể hiện khuôn mặt rạng rỡ, nhiệt tình, trìu mến, tạo cho trẻ cảm thấy mình đang được quan tâm.

– Giáo viên cần hiểu trẻ, nên tìm những điểm tốt điểm tích cực của trẻ, để nêu gương khích lệ trẻ tạo cho trẻ có được sự tự  tin, phấn khởi.

– Cần tôn trọng trẻ, lắng nghe ý kiến của trẻ và sẵn sàng giải đáp mọi thắc mắc của trẻ, không nên lờ đi trước ý kiến của trẻ.

– Cần linh hoạt trong cách xử lý tình huống với trẻ, không nên cứng nhắc vì mỗi trẻ là một các thể riêng biệt, một tính cách và sở thích khác nhau. Giáo viên cần hiểu trẻ và tạo nhiều cơ hội để trẻ được thể hiện trong các tình huống khác nhau.

     * Quy tắc về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non:

     1. Phòng ngừa tai nạn ngã và chấn thương

– Đảm bảo an toàn cho trẻ: Trẻ ở đâu, cô ở đó!

– Lan can, cầu thang phải có rào hoặc thanh bảo vệ, các bậc thềm, cầu thang đủ ánh sáng, dễ đi, không để ẩm ướt, dễ trơn trượt. Dạy trẻ biết đi cầu thang đúng cách.

– Giáo dục trẻ không xô đẩy nhau, không leo trèo, không chơi các trò chơi nguy hiểm trong lớp và ngoài sân trường.

– Không để vật dụng tạo cơ hội cho trẻ leo trèo.

– Các góc của giá kệ không sắc nhọn.

– Để dao kéo ngoài tầm tay của trẻ.

– Sàn lớp học, sàn nhà vệ sinh khô ráo, không ẩm ướt.

     2. Phòng tai nạn do nước:

– Tại các lớp học, không nên để trẻ một mình vào nơi chứa nước kể cả xô nước, chậu nước.

– Giám sát khi trẻ đi vệ sinh, khi trẻ chơi gần khu vực có chứa nguồn nước.

– Ngoài lớp học: không nên để trẻ chơi một mình ở những khu trải nghiệm nước.

     3. Phòng tai nạn do hóc sặc, ngạt thở do dị vật đường hô hấp

– Không cho trẻ cầm các đồ chơi quá nhỏ có thể cho vào miệng, mũi.

– Khi cho trẻ ăn các quả có hạt, cần bóc bỏ hạt trước khi cho trẻ ăn.

– Giáo dục trẻ khi ăn không được vừa ăn vừa đùa nghịch hoặc nói chuyện.

– Không ép trẻ ăn, uống khi trẻ đang khóc. Thận  trọng khi cho trẻ uống  thuốc, đặc biệt là các thuốc dạng viên.

– Giáo viên cần nắm vững cách phòng tránh dị vật đường thở cho trẻ và có một số kĩ năng đơn giản giúp trẻ loại dị vật đường thở ra ngoài.

– Khi xảy ra trường hợp trẻ bị dị vật đường thở, cần bình tĩnh sơ cứu cho trẻ; đồng thời báo cho y tế, BGH, gia đình và đưa tới cơ sở y tế nơi gần nhất để cấp cứu cho trẻ.

– Thực đơn cho trẻ không nên chứa thực phẩm cứng hình tròn, như xúc xích thái lát, hạt nhân, kẹo cứng, quả nho và hạt ngô. 

– Không xúc cho trẻ miếng cơm, thức ăn quá lớn, không ép trẻ ăn quá nhiều.

– Thường xuyên kiểm tra trong miệng trẻ tránh nuốt ngậm sau giờ ăn .

     4. Quy tắc an toàn khi trẻ ngủ:

– Giáo viên không ngủ trong giờ trực trưa.

– Không cho trẻ nắm sấp.

– Nơi trẻ nằm xa các giá đồ chơi, xa nhà vệ sinh.

– Tuyệt đối không cho trẻ vừa ngủ vừa bú bình sữa.

– Không để trẻ mặc quá nhiều áo trong giờ ngủ.

– Tháo toàn bộ dây, khăn, quần áo, mũ, yếm dãi, núm vú giả hoặc đồ chơi khỏi người của trẻ khi ngủ.

     5. Phòng ngừa ngộ độc:

– Thuốc của giáo viên, hóa chất tẩy rửa, mỹ phẩm, điều khiển ti vi, điều hòa có sử dụng pin… để cao khỏi tầm với của trẻ.

– Loại bỏ những thứ có thể gây nguy hiểm cho bé như pin, kẹp giấy, túi nhựa hoặc những vật tiềm ẩn nguy cơ khác khỏi “tầm ngắm” của trẻ.

     6. Phòng tránh cháy, bỏng:

– Trong giờ chia ăn cho trẻ, không để nồi cơm canh dưới sàn nhà

– Kiểm tra thức ăn trước khi cho trẻ ăn, uống. Tránh cho trẻ ăn thức ăn, nước uống còn quá nóng.

– Không để trẻ nghịch diêm, bật lửa và các chất khác gây cháy bỏng. Để diêm, bật lửa, nến, đèn dầu, bàn là, vật nóng xa tầm với của trẻ hoặc nơi an toàn đối với trẻ. Giáo dục cho trẻ nhận biết đồ vật và nơi nguy hiểm.

     7. Phòng tránh điện giật:

– Đặt ổ điện, bảng điện ngoài tầm với của trẻ. Luôn đậy nắp, nút các ổ điện nếu ở vị trí thấp.

– Khi thiết bị điện bị hở mát, không được sử dụng và có biện pháp xử lí ngay.

– Giáo dục trẻ không được nghịch, chọc vào các ổ điện, không tự động cắm các đồ dùng bằng điện vào các ổ cắm.

– Hệ thống dây điện nguồn của ti vi, máy tính máy chiếu…để cao hoặc có đường ống gen an toàn

     8. Phòng tránh vết thương do các vật sắc nhọn:

– Cất giữ vật dụng sắc nhọn xa tầm với của trẻ. Nếu trẻ lớn, có thể hướng dẫn trẻ sử dụng một cách an toàn.

– Loại bỏ các vật sắc nhọn bằng kim loại, mảnh thủy tinh, gốm, sắt,… khỏi nơi vui chơi của trẻ.

– Giải thích cho trẻ về sự nguy hiểm của các vật sắc nhọn khi chơi, đùa nghịch hay sinh hoạt.

– Giáo dục và kiểm soát khi trẻ sử dụng các dụng cụ ở góc kĩ năng thực hành cuộc sống.

     9. Phòng tai nạn do các nguyên nhân khác:

– Giáo viên dạy và kiểm soát trẻ không chơi cạnh khu vực thang tời vận chuyển thức ăn; không tự ý bấm công tác hành trình…

     * Quy tắc an toàn phòng chống cháy nổ:

1. Ban hành và tổ chức thực hiện quy định an toàn PCCC; niêm yết nội quy PCCC, biển cấm lửa ở kho ga, tiêu lệnh chữa cháy tại những nơi có nguy hiểm cháy, nổ; niêm yết sơ đồ, biển chỉ dẫn thoát nạn.

2. Trang bị đủ phương tiện chữa cháy tại chỗ phù hợp với yêu cầu chữa cháy của từng khu vực, thiết bị cứu người; hướng dẫn cán bộ công nhân viên sử dụng thành thạo các phương tiện, thiết bị đó.

3. Tổ chức lực lượng PCCC cơ sở, huấn luyện nghiệp vụ PCCC và duy trì hoạt động thường xuyên đối với lực lượng này.

4. Trước khi tiến hành công việc phải thực hiện kiểm tra an toàn phòng cháy chữa cháy tại nơi làm việc do chính mình đảm nhiệm, nếu phát hiện có dấu hiệu mất an toàn về phòng cháy và chữa cháy phải tìm mọi cách để khắc phục.

See also  Hướng Dẫn Cách bảo quản hoa quả khi không có tủ lạnh 2022 - cách bảo quản dưa hấu khi không có tủ lạnh

5. Không thắp hương, đun nấu, không tàng trữ các chất nguy hiểm cháy như xăng, dầu, gas trong nhóm lớp.

6. Khi ra khỏi phòng, nhóm lớp làm việc phải tắt các nguồn điện, nguồn nhiệt đồng thời kiểm tra các yếu tố khác có thể phát sinh nguồn nhiệt tại khu vực do mình đảm nhiệm.

7. Khi xảy ra cháy tìm mọi cách báo cháy nhanh nhất cho Cảnh sát PCCC số máy 114 và huy động lực lượng, phương tiện để chữa cháy.

* Một số quy tắc giúp giáo viên lồng ghép các kĩ năng để dạy trẻ:

Hướng dẫn kỹ năng phòng bắt cóc, chống xâm hại tình dục cho trẻ em

1. Quy tắc bàn tay giao tiếp:

Cần dạy bé biết quy tắc bàn tay giao tiếp (mỗi ngón tay là 1 quy tắc) sau đây:

– Ôm hôn (ngón cái): Chỉ dùng với những người thân ruột thịt trong nhà như: anh chị em ruột, bố mẹ, ông bà.

– Khoác tay, nắm tay với họ hàng, thầy cô, bạn bè (ngón trỏ).

– Bắt tay khi gặp người quen biết (ngón giữa).

– Vẫy tay nếu gặp người lạ (ngón áp út).

– Xua tay (ngón út) để phòng tránh xâm hại trẻ em, hãy dạy trẻ phải biết xua tay không tiếp xúc hoặc nếu cần, phải biết hét to để cầu cứu, báo động và bỏ chạy nếu những người xa lạ tiến lại gần và có những cử chỉ thân mật khiến trẻ bất an, khó chịu.

2. Dạy trẻ về giới tính và các vùng cấm:

Kỹ năng đầu tiên dạy cho trẻ là kiến thức về giới tính và  vùng cấm trên cơ thể là: quy tắc vùng mặc đồ bơi

Nhiều trường hợp các bé bị xâm hại mà không thể tự nhận biết được sự nghiêm trọng của vấn đề do còn quá non nớt và thiếu hiểu biết.

3. Tránh xa người lạ mặt:

Dạy cho trẻ cách tránh xa người lạ mặt, không bắt chuyện hay làm quen với bất kỳ ai mà bé gặp trên đường nếu không có sự đồng ý của cha mẹ. Đồng thời nên cảnh báo cho trẻ những nguy hiểm có thể gặp phải khi bé đi chơi một mình với người lạ mặt hoặc đi đến những nơi vắng vẻ, những nơi tối tăm, kín đáo.

4. Dạy trẻ cách chạy thật nhanh hoặc nhờ sự giúp đỡ của người khác:

Để đề phòng trường hợp không may trẻ bị tấn công, bạn nên đưa ra các giả thiết và hướng dẫn trẻ cách chạy trốn. Bạn có thể dạy trẻ tìm cơ hội lúc kẻ xấu sơ hở để chạy thật nhanh hoặc la hét thật lớn, cầu cứu người xung quanh. Nên chú ý rằng do sự chênh lệch về sức khỏe nên mọi sự phản kháng của trẻ gần như không đem lại kết quả, thậm chí còn khiến kẻ xấu sử dụng những biện pháp bạo lực hơn. Vì vậy, chỉ có thể dùng sự thông minh và những kỹ năng mới có thể giúp trẻ thoát thân an toàn. Cần cho trẻ ghi nhớ số điện thoại của cha mẹ, số điện thoại khẩn cấp để trẻ có thể sử dụng trong trường hợp khẩn cấp.

5. Báo ngay cho cha mẹ khi trẻ bị đe dọa hoặc không thích bất kỳ người nào:

Cần dạy cho trẻ rằng các bé không phải sợ hãi hay lo lắng khi có bất kỳ kẻ nào đe dọa hoặc làm tổn thương đến trẻ. Trong trường hợp có kẻ xấu đe dọa trẻ phải giữ bí mật thì trẻ nên thông báo cho cha mẹ và người thân biết. Ngoài ra, khi các bé không thích tiếp xúc với bất kỳ người nào, bé cũng nên chia sẻ cho cha mẹ biết và tránh xa những người mà bé không thích hay có những hành vi đụng chạm.

Dạy trẻ kỹ năng thoát hiểm khi hỏa hoạn

– Số điện thoại cứu hỏa : 114

–  Khi ngửi thấy mùi khét, khói hoặc trông thấy lửa cháy thì các con phải gọi ngay cho các chú lính cứu hỏa. Số điện thoại các chú là 114.

– . Nếu bị kẹt trong đám cháy có người lớn bên cạnh, các con phải bình tĩnh làm theo sự chỉ dẫn của người lớn.

 –  Chỉ cho bé những lối có thể thoát ra ngoài khi có hỏa hoạn. Dặn bé cố gắng thoát ra ngoài càng nhanh càng tốt tuyệt đối không chần chừ mang theo đồ đạc hoặc nán lại gọi điện cho cứu hỏa.

–  Nếu gia đình các bé sống trong tòa nhà cao tầng hoặc khu chung cư, hãy dạy bé rằng đừng bao giờ di chuyển xuống dưới đất bằng thang máy khi có hỏa hoạn vì khi đó thang máy có thể ngừng giữa chừng do ngắt điện. Trường hợp ở gần tầng thượng hơn, hãy di chuyển lên tầng thượng thay vì di chuyển xuống dưới.

–  Nhớ rằng không những lửa mà khói và hơi độc cũng có thể dẫn đến tử vong. Để tránh bị ngộp vì khói, hãy dạy bé di chuyển ra ngoài bằng cách bò sát mặt đất, bịt khăn hoặc vải thấm nước lên miệng, mũi. Hãy khoác thêm một chiếc áo được nhúng nước nếu có thể.

–  Khi tóc hoặc quần áo bị bén lửa hãy dạy bé phải dừng lại, nằm xuống và lăn người qua lại hoặc lăn tròn.

– Nếu kẹt trong phòng không thể thoát ra ngoài, hãy lấy vải ướt bịt chặt các khe cửa rồi chui xuống gầm giường và nằm sát xuống sàn nhà. Bởi gầm giường là nơi đầu tiên những người lính cứu hỏa để mắt đến khi tìm kiếm những người còn kẹt lại trong một vụ hỏa hoạn.

Biện pháp 4: Đầu tư cơ sở vật chất đảm bảo môi trường an toàn cho trẻ trong các hoạt động ở trường mầm non.

Cơ sở vật chất của trường mầm non là yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ. Cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi có đảm yêu cầu thì mới tạo được môi trường an toàn cho trẻ hoạt động. Chính vì vậy, việc đầu tư, xây dựng, cải tạo môi trường và đầu tư cơ sở vật chất được nhà trường luôn trú trọng để tạo sự an toàn cho trẻ trong mọi hoạt động. Từ đó sẽ giảm thiểu được các tai nạn thương tích xảy ra đối với trẻ.

Sau đợt kiểm kê tài sản của năm học 2017- 2018, nhà trường đã tổng hợp được số trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi cũ, hỏng, cần thay thế và bổ sung.Căn cứ vào số liệu báo cáo của các bộ phận sau khi rà soát. Ban cơ sở vật chất của nhà trường đi kiểm tra thực tế, sau đó xây dựng kế hoạch mua sắm bổ sung, thay thế, sửa chữa theo thứ tự ưu tiên.

*  Đối với các nhóm lớp:

– 12/12 nhóm lớp có đầy đủ đồ dùng đồ chơi theo quy định. Ngoài ra các lớp có góc kỹ năng thực hành cuộc sống giúp trẻ rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng sử dụng đồ vật.

– Hệ thống giá tủ đồ chơi của các lớp được đầu tư mới từ năm học 2017- 2018 có chiều cao phù hợp theo độ tuổi ..

– Tất cả kệ, giá đồ chơi, tủ ba lô và các giá kệ cao khác được bắt vít vào tường đảm bảo an toàn cho trẻ.

* Đối với nhà bếp:

– Bếp ăn của nhà trường được xây dựng và sắp xếp theo quy trình bếp một chiều, được trang bị đầy đủ các trang thiết bị hiện đại như: Hệ thống bếp ga, tủ cơm ga, tủ sấy bát, tủ lạnh bảo quản thực phẩm và lưu thức ăn.

– Hệ thống biểu bảng cho các bếp được trang bị đầy đủ theo yêu cầu, các cửa bếp đều có rào chắn bằng inox để ngăn cách đảm bảo an toàn cho trẻ trong các hoạt động.

– Hệ thống bếp đã được kiểm tra thay mới trong năm học để đảm bảo an toàn cho người nấu và phòng chống cháy nổ

– Các cửa sổ có lưới chống côn trùng đảm bảo an toàn thực phẩm.

– Trong khu vực nấu có bố trí thiết bị báo cháy khi rò rỉ ga, có bình chữa cháy để sẵn sàng ứng phó khi có cháy xảy ra.

– Hệ thống thang tời có nội quy hướng dẫn sử dụng và được bảo dưỡng theo định kỳ để đảm bảo an toàn tuyệt đối.

– Bể nước ăn của trẻ có lưới chắn côn trùng và được thau rửa theo định kỳ để đảm bảo vệ sinh cho trẻ.

Với nguồn kinh phí tiết kiệm và tận dụng tối đa sự ủng hộ ngày công của phụ huynh, nhà trường và các cô giáo đã tạo cho các con có một môi trường học tập và vui chơi an toàn, hiệu quả.

4. Kết quả đạt được sau khi thực hiện đề tài:

Qua một năm thực hiện các biện pháp trên, công tác đảm bảo an toàn cho trẻ của nhà trường có nhiều chuyển biến tích cực. CBGVNV nhà trường luôn có ý thức, nêu cao vai trò trách nhiệm của mình và thực hiện tốt các yêu cầu đặt ra; cơ sở vật chất đảm bảo được đầu tư đồng bộ, cải tạo, bảo dưỡng bộ sung đạt tiêu chuẩn an toàn; GVNV thực hiện tốt các quy tắc an toàn trường học; các bậc phụ huynh có cái nhìnmới về sự cần thiết phải chăm sóc dạy dỗ con như thế nào là tốt, giáo dục cho trẻ an toàn ngay từ tuổi còn nhỏ.

* Chất lượng đội ngũ:

– CB, GV, VN đoàn kết, hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau trong mọi hoạt động.

– GVNV, học sinh và các bậc phụ huynh có ý thức trong công tác đảm bảo an toàn trường học.

* Môi trường giáo dục:

Các nhóm lớp, bếp và cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp thân thiện, an toàn.

* Chất lượng chăm sóc – nuôi dưỡng:

– Trong năm học không có trường hợp ngộ độc và mất an toàn nào xảy ra.

– Bếp ăn đạt tiêu chuẩn bếp ăn 5 tốt, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm được cấp trên đánh giá cao về công tác y tế học đường.

– 100% các nhóm lớp đạt kết quả cao qua chấm điểm bảng kiểm về phòng chống tai nạn thương tích cho trẻ.

PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

     1. Kết luận:

     Những giải pháp trên tôi đưa ra và thực hiện trong suốt năm học bằng các công việc cụ thể hóa và triển khai đồng bộ tới CBGVNV trong nhà trường. Bản thân tôi luôn suy nghĩ mình cần có tinh thần đổi mới, có quyết tâm cao và luôn phải tư duy để lựa chọn thực hiện các giải pháp phù hợp với nhà trường làm sao khơi dậy cho tất cả thành viên trong nhà trường sát cánh cùng với Hiệu trưởng thực hiện tốt công tác đảm bảo an toàn cho trẻ trong trường học.

      2. Bài học kinh nghiệm:

     Qua một năm thực hiện các biện pháp và có được kết quả trên, bản thân tôi  rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý của mình:

– Trước hết cần nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và phụ huynh trong toàn trường về tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn cho trẻ trong mọi hoạt động.

– Xây dựng kế hoạch cụ thể, khoa học trong việc sắp xếp bố trí đội ngũ và chỉ đạo sát sao tới từng bộ phận của nhà trường.

– Thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra an toàn trường học để có biện pháp khắc phục kịp thời.

– Chỉ đạo đồng bộ trong toàn trường để giáo viên học tập trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau và tạo sự đoàn kết hoà hợp trong nhà trường. Luôn quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi để động viên chị em giáo viên làm tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ một cách hợp lý, kịp thời.

– Thường xuyên lắng nghe ý kiến của đồng nghiệp và tạo sự đồng thuận giữa các tổ chức đoàn thể của nhà trường để có biện pháp chỉ đạo phù hợp.

 


Xem thêm những bài viết liên quan đến chủ đề cách bảo quản đồ chơi ở lớp mầm non

Trò chơi Nhà trẻ, trò chơi mẫu giáo – Trò chơi Mầm non – Top 10 trò chơi Mầm non – PHẦN 1

alt

  • Tác giả: Cô Nga Mầm non
  • Ngày đăng: 2017-07-12
  • Đánh giá: 4 ⭐ ( 2229 lượt đánh giá )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Tại trường Mầm non, các bé được chơi các trò chơi hàng ngày không cảm thấy chán. Những trò chơi không chỉ tạo niềm vui, phát triển vận động cho trẻ, mà thông qua trò chơi trẻ tiếp thu được những kiến thức bổ ích, những kĩ năng từ đó hướng đến sự phát triển toàn diện cho trẻ.
    Hôm nay, CÔ Nga mầm non tổng hợp 10 trò chơi nhà trẻ, mẫu giáo mà các cô tại trường hay tổ chức cho các bé chơi..
    Đó là các trò chơi: Cáo và Thỏ, Nu Na nu nống, Rồng rắn lên mây, Bịt mắt bắt dê, trò chơi Con Muỗi, Lộn cầu vồng, Năm con cua đá, hai chú lính chì, Dấu cái tay ra sau lưng, mưa to mưa nhỏ
    Đây là video trò chơi mà mình tổng hợp các trò chơi của Trường MN Hạnh Phúc – Thành phố Hồ Chí Minh (http://www.mamnonhanhphuc.edu.vn )
    và 1 số trường MN khác.
    cÁC BẠN THAM KHẢO PHẦN 2
    https://www.youtube.com/watch?v=S01ghr1PRYc
    Cảm ơn các bạn đẽ xem video.
    THANK YOU FOR WATCHING!
    YOUTUBE Channel: goo.gl/lYSe9y

Thiết kế đồ chơi Toán học cho trẻ ở trường mầm non

  • Tác giả: tailieu.vn
  • Đánh giá: 4 ⭐ ( 8583 lượt đánh giá )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Nguyên tắc lựa chọn đồ dùng, đồ chơi, học liệu cho trẻ mầm non

  • Tác giả: cdspdienbien.edu.vn
  • Đánh giá: 3 ⭐ ( 4553 lượt đánh giá )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm:

Sự cần thiết của đồ dùng đồ chơi đối với trẻ mầm non

  • Tác giả: idj.com.vn
  • Đánh giá: 5 ⭐ ( 8583 lượt đánh giá )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Chính những đồ chơi này giúp trẻ được thao tác, được hoạt động, trải nghiệm, được thể hiện những nhu cầu cá nhân, từ đó giúp trẻ phát triển toàn diện.

CÁCH LÀM ĐỒ CHƠI CHO TRẺ MẦM NON

  • Tác giả: blog.kiddihub.com
  • Đánh giá: 4 ⭐ ( 9684 lượt đánh giá )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Đồ chơi tự làm có rất nhiều ưu điểm để hiểu sâu và đúng thầy cô cùng KiddiHub khám phá lợi ích và những cách hay làm đồ chơi cho trẻ em mầm non nhé!

Hướng Dẫn Cách Làm Đồ Dùng Đồ Chơi Cho Trẻ Mầm Non Cho Trẻ, Hướng Dẫn Cách Tự Làm Đồ Chơi Cho Bé Tại Nhà

  • Tác giả: tinycollege.edu.vn
  • Đánh giá: 4 ⭐ ( 6185 lượt đánh giá )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Đồ chơi mầm non là một món đồ không thể thiếu với các bé trong độ tuổi dưới 5 tuổi, Bởi vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mầm non và đồ chơi chính là phương tiện giáo dục hữu hiệu nhất để trẻ tiếp thu kiến thức một cách nhiệt tình, hứng thú và hiệu quả nhất

Dạy trẻ cách tự bảo quản đồ dùng học tập như thế nào?

  • Tác giả: bitex.com.vn
  • Đánh giá: 4 ⭐ ( 4685 lượt đánh giá )
  • Khớp với kết quả tìm kiếm: Sắp xếp đồ dùng học tập là kỹ năng quan trọng giúp bé phát triển, thành công về sau. Ba mẹ cần sớm tạo lập, hướng dẫn bé làm như thế nào đúng, khoa học nhất

Xem thêm các bài viết khác thuộc chuyên mục: cách bảo quản

See more articles in the category: Cách bảo quản

Leave a Reply